Sơ đồ bố trí tượng Phật trong Chùa
Sơ đồ bố trí tượng Phật trong Chùa

Trong không gian chùa Việt (Bắc Bộ), từ kiến trúc, bài trí, tượng thờ, pháp khí, cho đến cây cối được trồng trong di tích đều ẩn chứa những cấu tứ sâu sắc bởi ý nghĩa minh triết của Phật giáo hòa quyện với ước vọng cầu mùa của người Việt. Nếu bố cục ngôi chùa theo kiểu “nội Công ngoại Quốc” là hình thức phổ biến hơn cả thì nhìn chung chùa bao gồm một điện thờ hình chữ “Công”, một dãy hành lang bao quanh ba mặt và một sân rộng. Khu trung tâm là điện thờ Phật của chùa, thông thường bao gồm ba ngôi nhà nằm kế tiếp nhau, lần lượt là Tiền đường – Thượng điện – Nhà Tổ, Nhà Mẫu…

Kiến trúc chùa miền Bắc
Kiến trúc chùa miền Bắc

Bài trí tượng Phật trong tòa Tiền đường (nhà Bái đường)

Ban Đức Ông ở bên trái tòa Tiền đường, tượng có y phục theo lối võ quan, mặt đỏ, râu đen, hai bên tượng Đức Ông có hai vị thị giả. Truyện xưa vẫn kể: Đức Ông là vị trưởng giả, thuộc dòng Bà La Môn (Bharata) tên là Tu đạt Cấp Cô độc. Ông là người đã dùng gạch vàng để lát vườn của Thái tử Kỳ Đà mà xây nên vườn Lộc Uyển – vườn Nai – là nơi Đức Thích Ca giảng đạo và tăng đoàn học tập, nơi các vị Vương, Bà La Môn, trưởng giả, chúng sinh đến tham vấn Đức Thích Ca. Có lẽ vì công đức ấy mà Đức Ông được thờ ở vị trí trang trọng bên Phật điện. Khi vào chùa, trước tiên, du khách nên vào lối bên phải, đặt lễ trước ban Đức Ông, chắp tay hình búp sen, xin phép vào lễ Phật bởi ngài chính là người kiểm soát tâm thế của chúng sinh đến lễ chùa, đến với Phật… Lễ Phật chỉ cần đồ lục cúng (hương, hoa, đăng – nến, trà, quả, thực), không dâng tiền vàng, đồ mặn, đồ mã… Tiền đặt trong chùa là chi phí dầu đèn, tu bổ di tích và nuôi chúng tăng, không đặt tiền lên ban thờ, đĩa lễ mà bỏ vào hòm công đức ở ban chính. Nếu bỏ tiền lên ban Phật, gài vào tay, thân tượng Phật, Thánh là bất kính, vừa trái với giáo lý nhà Phật vừa dễ làm tiền cháy, rơi, bẩn.

Ban Thánh hiền ở bên phải tòa Tiền đường, tượng mặc áo cà sa vàng, đội mũ Liên hoa Thất Phật, chân dung hiền hòa, tươi tắn, bên cạnh có hai vị thị giả. Thánh hiền là cách gọi dân gian – đây là A Nan Đà dịch nghĩa là Hoan Hỉ (anh họ và cũng là đệ tử thứ hai của Đức Thích Ca Mâu Ni). Truyện rằng: A Nan Đà thuộc dòng dõi Bà la Môn, hoàng gia triều vua Tịnh Phạn. Ngài được mệnh danh là đệ nhất Đa văn thánh giáo (Người nghe nhiều lời dạy của Đức Thích Ca Mâu Ni), là người đã cùng với tăng đoàn kết tập kinh điển của Phật sau khi ngài tịch diệt. Trong một lần khất thực, gặp người phụ nữ yêu mình say đắm, ngài đã vượt qua tình ái lứa đôi và xin với Đức Thích Ca cho nàng đó được xuất gia, phát tâm từ bi yêu thương toàn nhân loại, từ đó trong Tăng đoàn xuất hiện hàng Ni (Sư nữ).

Tượng Bát bộ Kim Cương: Là vị phiếm thần, gồm tám pho tượng đứng hai bên gian tiền đường làm không gian tăng thêm phần uy nghiêm. Các tượng đều mặc áo giáp trụ, mũ kim khôi, đi hia, cầm binh khí song dáng đứng theo các thế tấn, thế tay khác nhau thể hiện tinh thần dũng mãnh và cương quyết. Theo nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền: “Kim cương biểu hiện cho tâm trong sáng, không hủy hoại, kiên định trong tu hành hay hộ trì Phật pháp nên gọi là Kim Cương Hộ pháp, y phục này là áo nhẫn nhục hay còn gọi là áo tùy hình chống lại ba mũi tên độc tham, sân, si (tham lam, nóng giận và ngu tối)”. Ở chùa Việt Bắc Bộ, tượng Kim Cương Hộ pháp luôn thể hiện dưới hình dạng võ tướng, có lẽ để thể hiện tinh thần dũng mãnh hay ẩn chứa lòng tôn kính các vị anh hùng dân tộc? Bộ tượng này ở chùa Tây Phương (Hà Nội) khá mực thước, cách thể hiện khéo léo, dáng hoạt, tư thế sinh động; bộ tượng ở chùa Mía (Hà Nội) lại có vẻ dân gian, khuôn mặt giống người thực, có cảm xúc…

Sơ đồ bố trí tượng Phật trong Chùa miền Bắc
Sơ đồ bố trí tượng Phật trong Chùa miền Bắc

Sơ đồ bố trí tượng Phật tại Chính điện

Chính điện hay Tòa Thượng điện còn gọi là Tam bảo hay Đại hùng Bảo điện. Chính điện bao giờ cũng là nơi trung tâm của sự thờ cúng trong chùa. Ở đây có nhiều lớp bàn thờ làm thành nhiều bậc từ cao xuống thấp. Vị trí các tượng được thay đổi linh hoạt theo từng chùa. và đắc đạo của đức Phật, đồng thời biểu hiện các triết lý của đạo Phật. Nghĩa của Đại hùng: Thắng nhân giả anh, Thắng kỷ giả hùng (thắng được mình mới là bậc đại hùng).

Lớp thứ nhất: Bộ tượng Tam Thế Phật

Là tầng trên cùng sát vách, trên cùng là tượng Tam thế, tên đầy đủ là Tam thế tam thiên Phật nghĩa là ba nghìn vị Phật thời quá khứ, hiện tại, tương lai, trong đó Thiên (ngàn) là con số phiếm chỉ không đếm được. Bộ tượng này gồm ba pho, thường có một dáng chung là ngồi kết già, sự khác nhau chỉ là các dáng tay kết ấn, bên trái là Quá khứ thế, bên phải là Vị lai thế, ở giữa là Hiện tại thế. Ba tượng Tam thế có kích thước và hình dáng giống nhau, đỉnh đầu có gồ thịt nổi cao như búi tóc, tóc xoắn ốc, tai dài, ngực có chữ vạn (卍), mình có sắc hoàn kim sáng rực, mặt nguyệt. Ba pho tượng Tam thế được đặt ngồi trên tòa sen.

Bài trí tượng Phật tại Chính điện
Bài trí tượng Phật tại Chính điện

Lớp thứ hai: Bộ tượng Di đà tam tôn

Bộ tượng Di đà tam tôn (còn gọi là “Tây phương tam thánh”) gồm tượng Phật A Di Đà ở giữa. Hai tượng còn lại là hai vị thị giả giúp việc cứu thế cho Phật A Di Đà nên thường được tạc kiểu đứng chầu bên cạnh. Tượng Bồ Tát Quán Thế Âm ở bên trái và tượng Bồ Tát Đại Thế Chí ở bên phải. Tượng Phật A Di Đà thường có kích thước lớn hơn các tượng khác.

Trong đó, Phật A Di Đà ở giữa thể hiện tám tính (bát đại), phân thân biểu hiện thành Quan thế âm Bồ tát bên trái (bốn tính thuộc từ tâm là đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả) và Đại thế chí Bồ tát bên phải (bốn tính thuộc trí tuệ là đại hùng, đại lực, đại trí, đại dũng). Bộ “Di Đà tam tôn” được đặt ở tầng thứ hai để tỏ ý là mặc dù các ngài ở cõi Cực lạc nhưng vẫn có duyên và gần gũi với cõi Sa bà này, gần gũi với chúng sinh.

Tượng Phật A Di Đà ở giữa
Tượng Phật A Di Đà ở giữa
Tượng Phật A Di Đà ở giữa trong Bộ tượng Di đà tam tôn
Tượng Phật A Di Đà ở giữa trong Bộ tượng Di đà tam tôn
Thị giả 2 bên trong Bộ tượng Di đà tam tôn
Thị giả 2 bên trong Bộ tượng Di đà tam tôn
Thị giả 2 bên trong Bộ tượng Di đà tam tôn
Thị giả 2 bên trong Bộ tượng Di đà tam tôn

Lớp thứ ba: Bộ tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh

Tượng Hoa Nghiêm Tam Thánhtượng Phật Thích Ca Mầu Ni (còn gọi là Thích ca giáo chủ) ngồi giữa với tượng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ở bên trái và tượng Bồ Tát Phổ Hiền ở bên phải. Thích Ca ngồi trên tòa sen, còn Văn Thù và Phổ Hiền đứng trên tòa sen.

Tượng Văn Thù - Phổ Hiền
Tượng Văn Thù – Phổ Hiền
Tượng đức Thích Ca Mầu Ni ngồi cầm hoa sen
Tượng đức Thích Ca Mầu Ni ngồi cầm hoa sen
Tượng Văn Thù - Phổ Hiền
Tượng Văn Thù – Phổ Hiền

Ở lớp thứ ba ấy có nhiều chùa làm tượng đức Thích Ca Mầu Ni ngồi cầm hoa sen thường gọi là bộ tượng Niêm Hoa Vi Tiếu. Ca Diếp (tượng có nét mặt già hơn) là người đứng đầu trong các đệ tử của Phật Thích Ca, tu theo phép tu khổ hạnh. Ngài hiểu rõ giáo lý của Phật hơn cả nên khi Phật Thích Ca sắp viên tịch có truyền lại cho Ca Diếp y bát (áo cà sa và bát) để biểu thị ý nghĩa trao lại đạo thống. Ca Diếp được coi là tổ thứ nhất của phái Thiền Tôn. A Nan Đà, cũng gọi ngắn là A nan (tượng có nét mặt trẻ hơn) là em họ Phật Thích Ca, ngài xuất gia theo Phật. Theo kinh sách, A nan đà là người rất nhẫn nhục, hết lòng phụng sự đức Phật, là Tôn giả nổi tiếng với trí nhớ phi thường về những lời Phật dạy. Ngài được Ca diếp truyền y bát cho làm tổ thứ hai của phái Thiền Tôn.

Tượng Thích ca niêm hoa vi tiếu
Tượng Thích ca niêm hoa vi tiếu

Ngoài ra các chùa theo Phật Giáo Bắc Tông còn thờ bộ Tuyết Sơn Tam Thánh gồm có tượng Tuyết Sơn diễn tả Phật Thích Ca Mâu Ni trong thời kỳ tu khổ hạnh trên núi Tuyết Sơn với thân hình gầy gò, chỉ có da bọc xương. Hai bên là hai vị tôn giả trợ thủ Ca Diếp và A Nan Đà.

Lớp thứ tư: Tượng Tuyết Sơn

Tượng Tuyết Sơn mô tả quá trình bảy năm tu khổ hạnh không tìm được chân lý của Đức Thích Ca trong núi Hymalaya. Tạo hình tượng khắc khổ, đầu nhô lên hình sọ, mắt trũng sâu, chân tay gầy guộc, hiện rõ các đốt xương. Với tượng này có thể thấy rõ trình độ giải phẫu cơ thể người của cha ông khá vững vàng. Các nếp quần áo đổ dồn xuống dưới, như tăng vẻ tiều tụy của tượng, nhưng vẫn nhận thấy sự suy tư thanh thản trong ánh mắt xa xăm và toàn thân tĩnh tại, ung dung như ông già người Việt ngồi hóng mát. Tượng này ở chùa Tây Phương khá thành công, chất liệu gỗ phủ sơn, tiêu bản của tượng còn có ở chùa Thầy, chùa Trăm Gian.

Lớp thứ năm: Bộ tượng Di Lặc tam tôn

Bộ tượng Di Lặc tam tôn, tuy có mô hình nhất Phật nhị Bồ tát nhưng ở mỗi chùa lại có sự khác nhau. Ở chùa Tây Phương, bộ tượng này có niên đại thời Tây Sơn với Phật Di lặc ngồi giữa, hai bên là Đại Diệu Tường Bồ tát và Pháp Hoa Lâm Bồ tát. Ở một số chùa khác thì hai bên là Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ tát và Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, khi thì trong hình tướng nữ, cưỡi mãnh thú (voi và sư tử), khi thì trong hình tướng tăng nhân như ở chùa Hòe Nhai (Hà Nội), khi là hai vị Bồ tát cầm hoa sen hay pháp khí như ở chùa Bà Đá.

Lớp thứ sáu: Tòa Cửu Long

Tòa Cửu Long ở giữa, bên trái là Phạm Thiên và bên phải là Đế Thích. Tòa Cửu Long được xây dựng theo tích Thích Ca sơ sinh – một trong bốn tích quan trọng trong đời Phật (đản sinh, xuất gia, thành đạo và viên tịch). Trung tâm là Thái tử Tất Đạt Đa đản sinh trong hình dạng chú bé mũm mĩm nhưng vẻ mặt nghiêm trang, tay chỉ lên trời, tay chỉ xuống đất. Xung quanh có chín con rồng liên kết tạo thành một hình khum, hướng phía mặt ra ngoài, mô tả các tầng trời, trên đó có các vị Phật ngồi kết già, các vị Bồ tát, Kim Cương Hộ pháp, các nhạc sĩ thiên thần… Cũng có khi đài Cửu Long được điêu khắc theo chủ đề là bốn sự kiện quan trọng của Phật Thích Ca như ở chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang).

Tượng Tiên Đồng
Tượng Tiên Đồng
Tượng Ngọc Nữ
Tượng Ngọc Nữ

Tượng Nam Tào, Bắc Đẩu:

Phía trước tòa Cửu Long còn có tượng Nam Tào (mũ đỏ, quần áo đỏ, mặt đỏ), Bắc Đẩu (mũ đen, quần áo đen, mặt đen). Sự xuất hiện hai vị tinh quân này trên Phật điện là do tư duy dân gian. Có chùa thờ đủ bốn vị phù trợ tòa Cửu Long như chùa Mía, chùa Tây Phương, có chùa chỉ có hai vị vua trời như chùa Bối Khê (Hà Nội). Bốn vị này có nơi được thay bằng tượng tứ Bồ tát như ở chùa Bút Tháp, tạo hình tướng nữ trong dáng đứng. Ở chùa Mía, tứ Bồ tát đứng ở hai bên Phật điện, phía gian ngoài. Ở chùa Dâu (Bắc Ninh), tứ Bồ tát đứng trong gian thờ Đức Pháp Vân, Pháp Vũ.

Tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế
Tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế
Tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế
Tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế
Tượng Nam Tào - Bắc Đẩu
Tượng Nam Tào – Bắc Đẩu
Tượng Nam Tào - Bắc Đẩu
Tượng Nam Tào – Bắc Đẩu

Tượng Thập điện Diêm vương:

Hai bên Phật điện còn có tượng Thập điện Diêm vương cai quản mười cửa điện. Tạo hình các vị này theo lối Hoàng đế, mũ Bình thiên, áo cổn, đi hia, tay cầm hốt ngồi trên ngai. Ở chùa Bối Khê, bộ tượng Thập điện có giá trị nghệ thuật cao với trang phục trang trí hoa văn khá tỉ mỉ, mũ Bình thiên có rèm châu khá đặc sắc. Chùa Mía, chùa Ninh Hiệp đều có bộ Thập điện được tạc theo lối dân gian. Bộ Thập điện chùa Dâu lại mang chân dung khá thanh thoát, lối vẽ râu tượng trưng. Đặc biệt, đề tài này còn được thể hiện dưới dạng tranh gỗ mô tả cả cảnh xử án như bộ tranh Thập điện ở chùa Trăm gian.

Tượng Thập điện Diêm vương
Tượng Thập điện Diêm vương
Tượng Thập điện Diêm vương
Tượng Thập điện Diêm vương
Tượng Thập điện Diêm vương
Tượng Thập điện Diêm vương
Tượng Thập điện Diêm vương
Tượng Thập điện Diêm vương

Khi tìm hiểu ý nghĩa và sự tích các bộ tượng, chúng ta nhận thấy sự bài trí tượng trong chùa Việt được quy định bởi triết mỹ Phật giáo, vừa thể hiện sự uy nghi của đạo Phật, tạo ra cái thiêng văn hóa, vừa có thái độ tâm tình, chia sẻ trăm đắng ngàn cay bởi tượng Phật giáo Việt thật gần với hình tướng mang cốt cách người Việt. Mẹ Việt trong hình tượng Quan âm Bồ tát, ông già Việt ngồi hóng mát thung dung trong tượng Đức Thích Ca Mâu Ni, tượng Hộ pháp Kim cương thì to lớn, như biểu hiện sức mạnh của những anh hùng quật khởi.